Cho vay tiêu dùng thấp kinh tế khó phát triển
- Dư nợ cho vay tiêu dùng của Việt Nam (VN) bình quân khoảng 900.000 đồng/người so với thu nhập quốc dân bình quân đầu người khoảng 17 triệu đồng là rất thấp. Điều này không những khiến người dân khó có cơ hội tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ mà còn khiến các doanh nghiệp và ngân hàng giảm đáng kể thị phần.
VietNamNet đã có cuộc trao đổi với Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển ngân hàng Ngân hàng Nhà nước về vấn đề này. Ông Nghĩa nói:
 |
| Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa. (Ảnh TL) | - Ở nhiều nước trên thế giới chỉ số tiêu dùng được coi là dấu hiệu chủ chốt của tăng trưởng kinh tế trong trung hạn. Họ không hiểu tiêu dùng một cách thô thiển là “ăn xài” và đem nó đối nghịch với sản xuất như một số nhà “kinh tế” Việt Nam quan niệm.
Mức tiêu dùng phản ánh kỳ vọng về thu nhập tương lai của dân cư. Nó là động lực, là cầu chi trả về hàng hóa, dịch vụ cho sản xuất kinh doanh. Ngay cả các nhu cầu tiêu dùng về ôtô, nhà ở, đồ gia dụng, thậm chí mỹ phẩm cũng liên quan mật thiết với nhau không thể tách rời thu nhập kỳ vọng và đó là động lực của sản xuất.
Vì vậy tín dụng tiêu dùng từ lâu được coi là một phần quan trọng của ngân hàng bán lẻ (phần quan trọng nhất). Thậm chí theo Peter Drugger tín dụng tiêu dùng là cứu cánh của ngân hàng thương mại (NHTM) từ thập niên 70, khi mà tín dụng doanh nghiệp bị cạnh tranh khốc liệt bởi các công ty tài chính, các quỹ đầu tư và thị trường chứng khoán (TTCK).
Khảo sát của tập đoàn tư vấn BCG cũng cho thấy mặc dù cho vay tiêu dùng chỉ chiếm 30%-35%/tổng dư nợ nhưng tạo ra trên 60% lợi nhuận của các NHTM hàng đầu châu Á. Lý do rất đơn giản cạnh tranh khốc liệt đã khiến cho tín dụng doanh nghiệp có mức sinh lời ngày càng giảm, trái lại tín dụng tiêu dùng (kể cả thẻ tín dụng) đang có tốc độ tăng mạnh mẽ.
Đối với dân cư, đặc biệt là thế hệ trẻ và người thu nhập thấp, họ không thể đợi cho đến già mới tiết kiệm đủ tiền để mua nhà, mua ôtô và các đồ dùng gia đình khác. Tín dụng tiêu dùng giúp họ có được một cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, bằng việc mua trả góp những gì cần thiết, tạo cho họ động lực to lớn để làm việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái.
Đối với doanh nghiệp, tín dụng tiêu dùng kéo nhu cầu tương lai về hiện tại, quy mô sản xuất tăng nhanh, mức độ đổi mới và phong phú về chất lượng ngày càng lớn. Chính điều này đã làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, đó chính là nền tảng tăng trưởng kinh tế.
- Dư nợ vay tiêu dùng bình quân của một người dân VN hiện nay chưa đầy một triệu đồng, ông nhìn nhận thế nào về con số này?
- Nếu tính dư nợ cho vay tiêu dùng bình quân khoảng 900.000 đồng/người so với thu nhập quốc dân bình quân đầu người khoảng 17 triệu đồng là rất thấp. Tương tự, tỷ lệ cho vay tiêu dùng chỉ chiếm 6,54%/tổng dư nợ cho vay nền kinh tế là quá thấp, hoặc với tỷ lệ 4 người trưởng thành mới có 1 tài khoản ở NH là điều rất đáng buồn.
Nó chứng tỏ phần lớn người VN không có quan hệ với NH, nó cũng chứng tỏ hệ thống thanh toán món nhỏ, lẻ còn rất sơ khai và chi trả tiền mặt của dân cư là rất lớn kể cả tiền điện, nước, điện thoại, học hành, chữa bệnh và cuối cùng nó cũng cho thấy tiềm năng về phát triển NH bán lẻ và dịch vụ thanh toán là rất lớn ở VN.
Các NH nước ngoài và một số NH VN đã thấy được tiềm năng này và đang tích cực đầu tư vào mạng lưới, hệ thống thẻ và dịch vụ cho vay tiêu dùng. Ở nhiều nước châu Âu và các thành phố lớn châu Á, bình quân từ 1.000 đến 1.500 dân có một chi nhánh NHTM là để phát triển hệ thống NH bán lẻ (tín dụng tiêu dùng); nếu chỉ hoạt động đơn thuần tín dụng doanh nghiệp thì đâu cần nhiều mạng lưới đến thế. TP.HCM và Hà Nội hiện nay bình quân từ 8.800 đến 10.000 dân mới có một chi nhánh hoặc điểm giao dịch NH.
 |
| Tại Việt Nam, 4 người trưởng thành mới có 1 tài khoản ở NH. (Ảnh HP) | - Nhiều ý kiến cho rằng trong bối cảnh năm 2008 Việt Nam phải kiểm soát hoạt động tín dụng tiêu dùng để kiềm chế lạm phát, thực tế thời gian qua cho thấy biện pháp này đã mang lại hiệu quả. Điều này có mấu thuẫn nếu như các NH mong muốn mở rộng hơn tỷ lệ cho vay tín dụng tiêu dùng, thưa ông?
- Để chống lạm phát thì đương nhiên là phải kiểm soát tăng trưởng tín dụng kể cả tín dụng doanh nghiệp và tiêu dùng. Nhưng kiểm soát tín dụng tiêu dùng để chống lãng phí, tham nhũng thì thật là nực cười. Bản chất của tín dụng tiêu dùng là ứng trước, trả dần, là động lực để người vay kiếm thêm thu nhập và tiết kiệm, đảm bảo nghĩa vụ nợ, họ lo dành dụm cho những mục tiêu lớn, không chi tiêu vô ích.
|
Theo số liệu của NHNN Việt Nam, dư nợ tín dụng tiêu dùng của các TCTD Việt Nam đến cuối tháng 9/2008 là 79.700 tỷ đồng, chiếm 6,54% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế.
So với ngày 31/12/2007 tăng về số tuyệt đối (+1.056 tỷ đồng), nhưng giảm về tỷ trọng trong tổng dư nợ (-1,03%). Như vậy, tính trung bình thì dư nợ vay tiêu dùng của một người dân Việt Nam hiện chỉ ở mức khoảng 921.000 đồng.
| Tuy nhiên, khác với cho vay chứng khoán và đầu tư BĐS thuộc loại đầu tư có rủi ro lớn do biến động giá tài sản, cho vay tiêu dùng đơn giản hơn, không phải thẩm định dự án phức tạp, không đòi hỏi trình độ cán bộ tín dụng cao cấp có năng lực phân tích tài chính doanh nghiệp và dự báo thị trường chuyên nghiệp. Cho vay tiêu dùng thiên về giám sát mục đích sử dụng món vay và kiểm soát thu nhập của người vay. Tránh tình trạng vay tiêu dùng nhưng để đầu cơ chứng khoán hoặc kinh doanh tài sản rủi ro khác.
Tất nhiên tín dụng tiêu dùng hay tín dụng doanh nghiệp đều chứa đựng rủi ro nhất định, cần phải được quản lý chặt chẽ. Trong nhiều trường hợp cho vay tiêu dùng thậm chí rủi ro còn thấp hơn nhiều so với cho vay doanh nghiệp, nếu món vay phù hợp với kỳ vọng thu nhập thực tế của người vay.
Ở nước ta từ nhiều năm nay tình trạng lãng phí, tham nhũng thường chỉ diễn ra trong khu vực đầu tư và chi tiêu công hoặc bắt nguồn từ khu vực này chứ đâu phải do tín dụng tiêu dùng gây ra, càng không phải do “chi tiêu tư’” mà có. - Thế nhưng chúng ta không thể không rút ra bài học từ sự khủng hoảng tín dụng nhà, đất (một loại vay tiêu dùng) ở Mỹ?
- Có thể khẳng định rằng không có tín dụng tiêu dùng thì nền kinh tế Mỹ không thể phát triển như ngày nay. Đa số người dân Mỹ vay tiền NH để mua nhà với thời hạn hợp đồng 10 năm đến 30 năm. Mua xe ôtô, đồ dùng gia đình từ 3-5 năm, thậm chí mua quần áo với thời hạn tín dụng từ 3-6 tháng. Đó là việc bình thường.
Tuy nhiên trong vòng 8 năm trở lại đây thị trường nhà đất phát triển mạnh. Các NH và tổ chức tín dụng đã bất chấp rủi ro cho vay cả những hợp đồng tín dụng nhà ở dưới chuẩn, thậm chí cho vay cả những khách hàng không có khả năng tài chính.
Tệ hại hơn, các tổ chức tài chính phố Wall còn gom các hợp đồng cho vay nhà này theo nhóm rủi ro làm tài sản đảm bảo để phát hành trái phiếu chứng khoán hóa ra thị trường Mỹ và thị trường tài chính thế giới (Mortage backed securites-MBS) với sự đánh bóng của các tổ chức PR và công ty giám định hệ số tín nhiệm (CRA).
Khi giá BĐS giảm, một số lớn hợp đồng tín dụng để đảm bảo cho MBS trở thành nợ xấu; MBS mất giá trên thị trường thứ cấp khiến cho NH và các NĐT nắm giữ trái phiếu này lỗ nặng hoặc mất khả năng thanh toán. Như vậy bài học ở đây là cho vay dưới chuẩn, cho vay cả những khách hàng không đủ khả năng tài chính, đồng thời phát hành trái phiếu (nhiều vòng) với sự bảo đảm bằng các hợp đồng tín dụng nhà ở dưới chuẩn tới mức không thể kiểm soát được trên thị trường thứ cấp.
Nói cách khác đó là sự vi phạm các chuẩn mực quản trị rủi ro và sự lạm dụng các công cụ tài chính tinh xảo khó kiểm soát. Ở VN nhu cầu tín dụng nhà ở còn rất lớn, cầu phát triển mạnh khi mà thu nhập của dân cư tăng lên. Điều quan trọng là cần hình thành cơ chế giám sát rủi ro phù hợp, kể cả với hợp đồng tín dụng và các phương thức tái tài trợ (chứng khoán hóa).
- Xin cảm ơn ông!
|