Sau chỉnh sửa, sách giáo khoa đã hết sai sót?
- Chỉnh sửa toàn bộ SGK phổ thông từ Tiểu học đến Trung học cơ sở, Trung học phổ thông là việc làm chưa từng có xưa nay. Dư luận xã hội hoan nghênh chủ trương này. Nhưng Bộ GD-ĐT và NXB Giáo dục có quá vội vàng khi định hoàn thiện khâu chỉnh sửa dịp đầu năm học 2008 – 2009?
Là tác giả của nhiều bài báo phản ánh sai sót của các cuốn SGK Toán bậc tiểu học, Lịch sử 7 và sách ngữ văn các cấp, tôi lo ngại khi biết chỉ “có 129 điểm chỉnh sửa trong SGK từ lớp 1 đến lớp 11”. SGK tiểu học chỉnh sửa 15 chỗ, THCS 47 chỗ, THPT 67 chỗ và “bình quân chỉ sửa từ 2 đến 3 lỗi một cuốn”.
 |
|
Chỉnh sửa 129 lỗi trong SGK từ lớp 1 đến lớp 11 có hết sai sót? (Ảnh VNN) |
Với hàng trăm đầu sách mà chỉ chỉnh sửa một dung lượng rất ít những lỗi nhỏ như vậy là điều đáng mừng? Thế nhưng, có phải chỉ có vậy?
Trả lời câu hỏi ấy, tôi xin so sánh một phần nhỏ bài “Lão Hạc” (Ngữ văn 8, tập 1, trang 38) và bài “Chí Phèo” (Ngữ văn 11, tập 1, trang 146) để bạn đọc xa gần tính giùm xem có bao nhiêu chỗ cần chỉnh sửa? Tôi chọn hai bài này vì hiện nay theo phân phối chương trình học sinh lớp 8 đang học “Lão Hạc”; ít tuần nữa, học sinh lớp 11 sẽ học “Chí Phèo”.
Chú thích về Nam Cao (Ngữ văn 8, trang 45) dài chưa đầy 200 chữ nhưng so với phần tác giả Nam Cao (Ngữ văn 11, trang 137, 138, 139, 140, 141), tôi thấy có nhiều điểm sai lệch.
1. Về năm sinh, năm mất của Nam Cao, Ngữ văn 8 viết “Nam Cao (1915 - 1951)…” kèm theo chú thích “Có tài liệu ghi năm sinh của Nam Cao là 1917”. Trong khi đó, sách Ngữ văn 11 lại khẳng định “Nam Cao (1917-1951)”. Được biết, theo tài liệu còn lưu giữ tại gia đình, nhà văn Nam Cao sinh năm 1915; còn theo lí lịch gửi Hội Nhà văn (1950), ông sinh năm 1917. Trong nhà trường, các SGK nên thống nhất ghi năm 1915 để học sinh dễ nhớ khi suy ra năm mất (1951).
2. Ngữ văn 8 rất chính xác khi viết “Nam Cao được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996)”. Không phân biệt “truy tặng” với “phong tặng”, Ngữ văn 11 viết “Năm 1996, Nam Cao được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật”.
3. Nên nêu đúng tiêu đề tác phẩm công bố lần đầu năm 1942, Ngữ văn 8 phải chỉnh sửa “Trăng sáng” thành “Giăng sáng”.
4. Trong các bài giảng kiến thức thể loại, người ta chia truyện hiện đại thành ba loại: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài (tiểu thuyết). Ranh giới giữa “truyện vừa”, “truyện dài” không rõ ràng. Vả lại, trong thực tế lâu nay, thuật ngữ “truyện vừa”, “truyện dài” ít thông dụng. Vì vậy, xin đề nghị các cuốn SGK nên thống nhất khẳng định: “Sống mòn” là tiểu thuyết. (hiện nay Ngữ văn 8 viết “truyện dài Sống mòn” còn Ngữ văn 11 viết “tiểu thuyết Sống mòn”).
5. Cùng một tác phẩm “Chuyện biên giới” mà Ngữ văn 8 (trang 45) thì viết “Bút kí Chuyện biên giới (1951)”; trong khi đó đọc Ngữ văn 11 (trang 140), học sinh lại phải ghi nhớ “Tập kí sự Chuyện biên giới (1950)”.
Ngoài 5 sai lệch nói trên, đi sâu vào mỗi bài viết, chúng ta dễ dàng nhận ra những lỗi không đáng có của các soạn giả SGK. Ngữ văn 8 dành đúng một câu để nói về Nam Cao sau tháng 8/1945: “Sau cách mạng, Nam Cao chân thành, tận tuỵ sáng tác phục vụ kháng chiến”. Nhận xét như thế là không thoả đáng. Ai cũng biết, ở thời kì này, Nam Cao coi trọng quan điểm “sống đã rồi hãy viết”. Ông không chỉ sáng tác mà trước hết còn trực tiếp tham gia kháng chiến. Vì thế, lời nhận xét trên cần được bổ sung thành “Sau cách mạng, Nam Cao tích cực tham gia nhiều hoạt động xã hội nhưng vẫn tận tụy sáng tác”.
Tôi cũng rất băn khoăn khi thấy Ngữ văn 11 (trang 140) đánh giá “Sau cách mạng, Nam Cao là cây bút tiêu biểu của văn học giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)”. Nhận xét này chưa bao giờ xuất hiện trong các cuốn SGK Văn học 11 trước đây và mâu thuẫn với những câu văn ở trang 139 của Ngữ văn 11: “Sau Cách mạng, Nam Cao tích cực tham gia kháng chiến, sẵn sàng hi sinh thứ “nghệ thuật cao siêu” của mình với ý nghĩ lợi ích dân tộc là trên hết.
Tuy ấp ủ nhiều hoài bão sáng tác nhưng ông vẫn tận tụy trong mọi công việc kháng chiến với quan niệm “sống đã rồi hãy viết”, “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn”. Truyện ngắn Đôi mắt, Nhật kí ở rừng, kí sự Chuyện biên giới,… là những tác phẩm có giá trị của nền văn xuôi thời kì đầu kháng chiến chống Pháp” nhưng không đủ sức đưa Nam Cao lên vị trí “cây bút tiêu biểu của giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)”.
Về sự hi sinh của Nam Cao, các soạn giả viết: “Ông đã hi sinh trên đường công tác ở vùng sau lưng địch” (Ngữ văn 8, trang 45), “Tháng 11/1951, trên đường vào công tác ở vùng địch hậu liên khu III, ông đã bị giặc Pháp phục kích và sát hại” (Ngữ văn 11, trang 138). Các từ ngữ: “sau lưng địch”, “địch hậu”, “liên khu III”,… khó hiểu với học sinh và không nói rõ được địa điểm Nam Cao hi sinh. Từ “sát hại” chưa thể hiện được tình cảm của bạn đọc đối với nhà văn liệt sĩ Nam Cao. Theo chúng tôi, các câu trên cũng nên chỉnh sửa theo hướng “Tháng 11/1951, trên đường vào công tác ở vùng địch tạm chiếm, đến Ninh Bình, Nam Cao bị giặc Pháp phục kích và anh dũng hi sinh…”.
Phần Tiểu dẫn trang 146 của Ngữ văn 11 cũng có không ít câu văn cần chỉnh sửa. “Truyện ngắn Chí Phèo nguyên có tên là Cái lò gạch cũ, khi in thành sách lần đầu (NXB Đời nay Hà Nội, 1941), nhà xuất bản tự ý đổi tên là Đôi lứa xứng đôi. Đến khi in lại trong tập Luống cày (Hội Văn hoá cứu quốc xuất bản, Hà Nội, 1946), tác giả đặt lại tên là Chí Phèo”. Đoạn văn trên ba lần lặp từ “tên” (có tên là, tự ý đổi tên, đặt lại tên) và từ “xuất bản”.
Học sinh cũng không rõ nguồn gốc của tiêu đề Cái lò gạch cũ. Chỉ cần chỉnh sửa đôi chút, đoạn văn sẽ trong sáng hơn: “Trong bản thảo ban đầu, truyện ngắn này mang tiêu đề Cái lò gạch cũ; khi in thành sách (1941), nhà xuất bản Đời mới tự ý đổi thành Đôi lứa xứng đôi. Năm 1946, trong tập Luống cày - Hội văn hoá cứu quốc ấn hành - tác giả đặt lại tên cho tác phẩm là Chí Phèo”.
Đoạn thứ hai của phần Tiểu dẫn (trang 146) hoàn toàn thừa, có thể bỏ đi. Nội dung “Nam Cao sáng tác từ năm 1936, nhưng đến tác phẩm Chí Phèo, nhà văn mới khẳng định được tài năng của mình” đã được nói đến ở phần tác giả. Câu văn “Chí Phèo là một kiệt tác trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, một truyện ngắn có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc mới mẻ, chứng tỏ trình độ nghệ thuật bậc thầy của một nhà văn lớn” trùng lặp với phần ghi nhớ (trang 156).
Sai sót trong hai bài viết trên không phải là cá biệt. Chúng ta dễ dàng tìm thấy các lỗi tương tự trong các bài về tác gia Tố Hữu, Hồ Chí Minh… Vì thế, chúng tôi thiết tha đề nghị trong đợt chỉnh sửa SGK lớp 12, NXB Giáo dục nên thận trọng hơn để tránh tình trạng tiền mất, tật vẫn mang.
Ý kiến bạn đọc:
|