Nghỉ việc có báo trước, có được hưởng trợ cấp thôi việc?
- Nhiều bạn đọc quan tâm đến các vấn đề về chế độ trợ cấp thôi việc sau khi hết hợp đồng lao động cũng như một số vấn đề khác liên quan đến người lao động... Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với luật sư để giải đáp một phần thắc mắc của các bạn.
Nghỉ việc có báo trước, có được hưởng trợ cấp thôi việc?
Sau khi hết hạn HĐLĐ 12 tháng, tôi xin nghỉ việc và báo trước 30 ngày. Trong thời gian 30 ngày, tôi tiến hành bàn giao công việc cho người có trách nhiệm ở công ty, nhưng người này không ký vào biên bản nhận bàn giao. Xin cho hỏi hết hạn 30 ngày, tôi nghỉ làm thì có vi phạm pháp luật không? Lương tháng và trợ cấp thôi việc, tôi có được thanh toán theo quy định của pháp luật không? (Câu hỏi của bạn Đoàn Hoài Trâm, Bình Dương - gaucon010@...).
Trả lời: Theo quy định tại khoản 1 điều 42 BLLĐ, khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc.
Do đó, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu doanh nghiệp thanh toán trợ cấp thôi việc cũng như lương tháng cuối cùng.
Sau khi đã bàn giao công việc cho người có trách nhiệm và không vi phạm thời hạn báo trước, bạn hoàn toàn được nghỉ làm mà không vi phạm pháp luật lao động.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Tôi làm trong công ty nước ngoài từ tháng 01/2007 đến nay, trong khi đó hợp đồng lao động của tôi có thời hạn đến 12/2009. Ngày 10/7/2008, tôi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Tôi đã được sếp đồng ý và bàn giao công việc đầy đủ trong vòng 45 ngày. Đến ngày 26/8/2008 tôi kết thúc thời gian làm việc. Vậy tôi có được hưởng trợ cấp thôi việc không và mức trợ cấp thôi việc được tính như thế nào?(Câu hỏi cua bạn Lê Văn Biêng, Nam Định, email: cokhi84@...).
Trả lời: Theo khoản 3 điều 36 Bộ luật Lao động, hợp đồng lao động của bạn chấm dứt theo thoả thuận của 2 bên. Do đó, bạn hoàn toàn được hưởng trợ cấp thôi việc căn cứ theo khoản 1 điều 42 Bộ luật Lao động và khoản 1 điều 14 NĐ 44/2003 ngày 09/05/2003.
Tiền trợ cấp thôi việc được tính bằng ½ (tổng thời gian làm việc* tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc). Bạn có thể tìm hiểu kỹ hơn tại Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/09/2003.
Nghỉ không lý do có được lấy lại sổ bảo hiểm không?
Trước đây, tôi công tác tại một doanh nghiệp nhà nước và được ký hợp đồng không thời hạn vào tháng 8/2004. Đến tháng 8/2006, tôi làm đơn xin nghỉ việc vì lý do gia đình. Khi tôi làm đơn thì được người phụ trách ký nhận và chuyển cho lãnh đạo đơn vị, nhưng lãnh đạo không ký lá đơn của tôi.
Do hoàn cảnh, tôi không tiếp tục làm việc ở đơn vị được, đến tháng 09/2007 tôi được thông báo là tự ý nghỉ việc. Nay tôi muốn hỏi trường hợp của tôi có được hưởng trợ cấp thôi việc không và tôi có được lấy lại sổ bảo hiểm không? Cho đến nay, tôi được đơn vị cho biết lý do tự ý nghỉ việc là không được lấy sổ bảo hiểm liệu có đúng không? (Câu hỏi của bạn Phùng Xuân Trung, email: phungxuantrung@...).
Trả lời: Theo khoản 3 điều 37 Bộ luật Lao động “người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày”.
Nếu anh không vi phạm thời hạn báo trước thì anh hoàn toàn được quyền hưởng trợ cấp thôi việc theo khoản 1 điều 42 Bộ luật Lao động và được quyền yêu cầu nhận lại sổ bảo hiểm xã hội.
Trong truờng hợp anh vi phạm thời hạn báo trước sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại điểm b khoản 2 mục III Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003.
|